Chính Tả & Ngữ Vựng tiếng Việt (II)

Tiếng Việt từ khi được hình thành cho tới nay có lẽ chưa hề có một cuốn văn phạm nào của một tổ chức thẩm quyền về ngôn ngữ quy định thế nào là viết đúng và thế nào là viết sai. Biết bao công trình về văn phạm hay từ điển từ thời Huỳnh Tịnh Của, Pétrus Ký cũng chỉ là những công trình cá nhân hay một nhóm người đề ra và người viết – các nhà văn, nhà báo – nếu thấy điều gì hữu lý đáng theo thì tự động chấp nhận mà thôi.

Chuyện cải cách tiếng Việt đã nhiều nhà nghiên cứu đề ra nhiều phương cách rất công phu nhưng không phải không có những điều bất tiện.

Cố Giáo Sư Nguyễn Đình Hoà, tác giả một công trình về tiếng Việt rất công phu nhưng chỉ để cho các nhà ngôn ngữ học tham chiếu thôi chứ chưa thể là khuôn vàng thước ngọc để căn cứ vào đó mà coi là chính tả hay “tà tả”.

Cho DQ mượn mảnh đất này để viết tiếp những chữ mà DQ (và có lẽ cũng có người) không biết viết làm sao cho đúng. Hy vọng các anh chị em ghé lại và góp ý thêm nha.

oOo

17. Dữ / Giữ:

Dữ: là tính từ chỉ tính cách. Ví dụ: dữ dằn, giận dữ, dữ tợn, hung dữ, dữ dội, …
Giữ: là động từ chỉ việc sở hữu, bảo vệ. Ví dụ: giữ của, giữ gìn, giữ xe, giữ đồ, …

18. Khoảng / Khoản:

Khoảng: để chỉ một vùng không gian, thời gian, độ dài bị giới hạn. Ví dụ: khoảng cách, khoảng không, khoảng thời gian.

Khoảng: cũng có khi được dùng để chỉ sự ước lượng. Ví dụ: Nhóm người đó có khoảng chục người.

Khoản là một mục, một bộ phận. Ví dụ: tài khoản, điều khoản, khoản tiền.

19. Số chẵn, số lẻ:

Chẵn dấu ngã, lẻ dấu hỏi là đúng.

20. Bán sỉ, bán lẻ:

Cách viết đúng: Cả sỉ và lẻ đều là dấu hỏi.

21. Chẳng lẽ:

Chẳng lẽ là một từ thường đặt ở đầu câu, dùng để diễn tả suy đoán về một khả năng mà bản thân không muốn tin hoặc không muốn nó xảy ra. Chẳng dấu hỏi, lẽ dấu ngã. Cái này ngược lại hoàn toàn với “số chẵn, số lẻ”.

22. Chuyện / Truyện:

Chuyện là thứ được kể bằng miệng.
Truyện là chuyện được viết ra và được đọc.

Ví dụ: chuyện cổ tích được kể dựa theo trí nhớ nhưng khi chuyện cổ tích được in vào sách thì nội dung được in đó gọi là truyện cổ tích. Và nếu có người đọc cuốn sách đó thì người đó đang đọc truyện cổ tích.

23. Sửa / Sữa:

Sửa xe, sửa máy móc, sửa chữa là dấu hỏi.
Sữa bò, sữa mẹ, sữa tươi, sữa chua là dấu ngã.

24. Chửa / Chữa:

Chửa: đồng nghĩa với mang thai, là dấu hỏi.
Chữa: đồng nghĩa với “sửa”, thường ghép với nhau thành từ ghép “sửa chữa”

lưu ý: sửa dấu hỏi, chữa dấu ngã mặc dù hai từ này đồng nghĩa

25. Dục / Giục:

Dục: nói về chức năng sinh lý của cơ thể hoặc ham muốn.  Ví dụ: thể dục, giáo dục, tình dục, dục vọng.

Giục: nói về sự hối thúc. Ví dụ: giục giã, xúi giục, thúc giục.

26. Giả / giã  dã:

Giả: không phải thật nhưng trông giống thật.  Ví dụ: hàng giả, giả dối, giả vờ, … Giả: còn là một từ gốc Hán mang nghĩa “người”.  Ví dụ: tác giả (người tạo ra), cường giả (kẻ mạnh), khán giả (người xem), diễn giả (người nói trước công chúng về một chủ đề nào đó).

Giã: thường ghép với các từ khác. Ví dụ: giục giã, giã từ.

: mang tính chất rừng rú, hoang sơ, chưa thuần hóa. Ví dụ: dã thú, hoang dã, dã tính, dã man.

27. Sương / Xương:

Sương: hơi nước xuất hiện vào buổi sáng sớm hoặc trong những hoàn cảnh thời tiết đặc biệt. Ví dụ: sương mù, giọt sương, hơi sương, sương muối.

Xương: phần khung nâng đỡ cơ thể động vật. Ví dụ: bộ xương, xương bò, xương hầm.

28. Xán lạn:

Xán lạn: là cách viết đúng. Cả “xán” và “lạn” đều là những từ gốc Hán. “Xán” là rực rỡ, “lạn” là sáng sủa. Tất cả các cách viết khác như “sáng lạn”, “sáng lạng”, “sán lạn”… đều là những cách viết sai. Đây là một từ khó, khó đến nỗi rất nhiều bài báo cũng dùng sai.

29. Rốt cuộc:

Rốt cuộc: là cách viết đúng. Nhiều người thường hay viết sai từ này thành “rốt cục” hoặc “rút cục”.

30. Kết cục:

Kết cục: là cách viết đúng. “Kết cuộc” là cách viết sai.

30. Xuất / Suất:


Xuất: là động từ có nghĩa là ra. Ví dụ: sản xuất, xuất hiện, xuất bản, xuất khẩu, xuất hành, xuất phát, xuất xứ, xuất nhập… Xuất còn có nghĩa là vượt trội, siêu việt. Ví dụ: xuất sắc, xuất chúng…

Suất: là danh từ có nghĩa là phần được chia. Ví dụ: suất ăn, tỉ suất, hiệu suất…

31. Yếu điểm / Điểm yếu:

Yếu điểm: có nghĩa là điểm quan trọng. “Yếu điểm” đồng nghĩa với “trọng điểm”.

Điểm yếu: đồng nghĩa với “nhược điểm”.

32. Tham quan:

Tham quan: nghĩa là xem tận mắt để mở rộng hiểu biết. “Tham quan” là cách viết đúng, “thăm quan” là cách viết sai.

33. Liên Lạc / Liên Hệ:
Liên lạc = động từ, có ý nghĩa là “thông truyền tin tức cho nhau”

ví dụ: Chúng tôi thường xuyên liên lạc với nhau qua điện thư.

Liên hệ = động từ, có ý nghĩa là “dính dáng, liên quan với nhau”
ví dụ: Điều ông vừa nói, thật ra, không liên hệ gì đến tôi.

Bởi vậy, phải viết là:
– Nếu có thắc mắc cần giải đáp, xin liên lạc với chúng tôi tại địa chỉ… hoặc ở số điện thoại…

chứ không thể viết là:
– Nếu có thắc mắc cần giải đáp, xin liên hệ với chúng tôi tại địa chỉ… hoặc ở số điện thoại…

vì chữ “liên hệ” trong câu đó không có nghĩa thích hợp.

oOo

Một số quy tắc chính tả:

Ch/Tr:

Chữ tr không đứng đầu các tiếng có vần có âm đệm như oa, oă, oe, uê. Do đó nếu gặp các vần này, ta dùng ch. Ví dụ: sáng choang, áo choàng, chích chòe, loắt choắt, chuệch choạc, chuếnh choáng…

Những từ Hán Việt có thanh nặng hoặc thanh huyền thường có âm đầu tr. Ví dụ: trịnh trọng, trình tự, trừ phi, giá trị, trào lưu…

Những từ chỉ vật dụng quen thuộc hoặc các mối quan hệ trong gia đình thường có âm đầu là ch. Những từ mang nghĩa phủ định cũng có âm đầu là ch. Ví dụ: chăn, chiếu, chai, chén, chổi, chum, chạn, chõng, chảo,… chuối, chanh, chôm chôm, cháo, chè, chả, chạy, chặt, chắn, chẻ,… cha, chú, chị, chồng, cháu, chắt,… chẳng, chưa, chớ, chả.

R/D/Gi:

Chữ rgi không đứng đầu các tiếng có vần có âm đệm (oa, oe, uê, uy). Do đó gặp các tiếng dạng này thì ta chọn d để viết, không chọn r hoặc gi. Ví dụ: dọa nạt, kinh doanh, duy trì, hậu duệ…

Trong các từ Hán Việt:
– Các tiếng có thanh ngã hoặc thanh nặng thường viết với âm đầu d.
Ví dụ: diễn viên, hấp dẫn, bình dị, mậu dịch, kỳ diệu…
– Các tiếng có thanh sắc hoặc thanh hỏi thường viết gi.
Ví dụ: giải thích, giá cả, giám sát, giới thiệu, tam giác…
– Các tiếng có thanh huyền hoặc thanh ngang thường viết với âm đầu gi khi vần có âm đầu a và viết với âm đầu d khi vần có âm đầu khác a.
Ví dụ: gian xảo, giao chiến, giai nhân, tăng gia, gia nhân, du dương, do thám, dương liễu, dư dật, ung dung…

“i” ngắn / “y” dài:

iy được dùng theo một số quy ước riêng chỉ áp dụng cho tiếng Việt. Để tóm tắt một cách có hệ thống, sau khi quan sát cách dùng i và y trong chính tả tiếng Việt, chúng ta có thể thấy có những quy luật chính tả sau đây:

I. Cách dùng chữ i. Chữ i được dùng trong những trường hợp sau:
1. Dùng như nguyên âm đơn theo sau một phụ âm: mi, đi, phi, thi, mít, thịt, v.v.
2. Dùng như nguyên âm chính trong một nhị trùng âm: chia, chịu, quít, v.v.
3. Dùng như bán nguyên âm đầu trong một nhị trùng âm: tiếc, kiếm, thiệp, v.v.
4. Dùng như bán nguyên âm sau trong một nhị trùng âm: hai, mái, coi, hơi, cúi, v.v.
5. Dùng như bán nguyên âm đầu trong một tam trùng âm: chiếu, tiêu, kiểu, v.v.
6. Dùng như bán nguyên âm sau trong một tam trùng âm: cười, tuổi, chuối, v.v.

II. Cách dùng chữ y. Chữ y được dùng trong những trường hợp sau:
1. Dùng như nguyên âm trong những chữ chỉ có nguyên âm (không có phụ âm trước hay sau): y, ỷ, ý, v.v.
2. Dùng như nguyên âm chính trong một nhị trùng âm có chứa bán nguyên âm /w/ (biểu hiện bằng chữ u): quý, thuý, luỹ, suýt, v.v.
3. Dùng như bán nguyên âm đầu trong môt nhị trùng âm trong những chữ không bắt đầu bằng một phụ âm: yến, yếm, yết, v.v.
4. Dùng như bán nguyên âm đầu trong một tam trùng âm trong những chữ không bắt đầu bằng một phụ âm: yêu, yểu, yếu, v.v.
5. Dùng như bán nguyên âm thứ nhì trong một tam trùng âm: nguyên, quyết, chuyện, v.v.
6. Dùng như bán nguyên âm sau trong một nhị trùng âm: hay, đây, xay, v.v.
7. Dùng như bán nguyên âm sau trong một tam trùng âm: quay, xoay, quậy, v.v.

Vô hình chung, có một quy ước như thế này:
• Khi a có i theo sau, ta có nguyên âm a đọc mở, hơi dài, như trong chữ tai, sai, cai, v.v.
• Khi a có y theo sau, ta có nguyên âm ă đọc ngắn lại, như trong chữ tay, say, cay, v.v.(viết là a mà kỳ thực là đọc như ă).

Một công dụng khác của i và y là giúp phân biệt hai loại nhị trùng âm cùng dùng chữ u trong chính tả, nhưng có khi u là nguyên âm, có khi là bán nguyên âm. Lại thêm một quy ước về i và y nữa. Quy ước đó như sau:
• Trong một nhị trùng âm mà u là nguyên âm và i là bán nguyên âm, nhị trùng âm đó sẽ viết là ui: cúi, túi, lui, v.v.
• Trong một nhị trùng âm mà u là bán nguyên âm và i là nguyên âm, nhị trùng âm đó sẽ viết là uy, thuý, quý, luỹ, suy, v.v

*** không gì khó chịu bằng đọc bài khi người Việt viết tiếng Việt mà sai chính tả.

Advertisements

6 Comments (+add yours?)

  1. Tiểu Thảo - Trần Tường Vi
    Sep 22, 2017 @ 19:32:34

    Chị vẫn còn bị sai chính tả đó, bài này sẽ giúp chị rất nhiều 😍

    Reply

  2. Bà Tám
    Sep 22, 2017 @ 01:51:01

    Thấy phần II mà không thấy phần I. DQ phân tích cách sử dụng hai chữ cọng/cộng đi. Cám ơn nàng.

    Reply

    • Dã Quỳ
      Sep 22, 2017 @ 14:01:19

      Phần I thì DQ viết từ lâu, ở đây nè Bà Tám ơi:

      https://dalatian.wordpress.com/2010/02/24/chinh-t%E1%BA%A3-ng%E1%BB%AF-v%E1%BB%B1ng-ti%E1%BA%BFng-vi%E1%BB%87t-i/

      Còn hai chữ cọng/cộng thì theo DQ sẽ như sau:

      – Cọng = (danh từ) thân cành của rau cỏ, cây trái
      ví dụ: cọng rơm, cọng rau

      – Cộng = (danh từ) kết hợp chặt chẽ hoặc = (động từ) gộp vào, thêm vào
      ví dụ: một cộng một bằng hai, cộng sổ sách, cộng sản, chống cộng (sản)

      nhưng đôi khi, nếu dùng theo phương ngữ (cổ xưa) thì ng` ta vẫn có thể viết cọng = cộng

      cũng như thời xưa, khi chữ Quốc Ngữ mới có thì chữ Việt Nam mình đúng ra viết là Bjiệt Nam đó thôi. 😉

      Reply

Cảm ơn bạn đã ghé thăm. Nếu bạn có để lại ý kiến hoặc chia sẻ của bạn thì xin cho biết quý danh luôn nhé. Bởi với một người "ẩn danh" thì khó trò chuyện lắm! :) :)

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Ngược/Xuôi

  • 285,453 bạn ghé thăm (từ 15-5-2011)

Chủ Nhà

Nếu nhà này “sập” thì chạy qua bên này: http://daquydalatian.blogspot.com

Khách Quý

Follow Lại Gần Với Nhau on WordPress.com

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 149 other followers

Tuổi của Mèo Nhí

Lilypie Kids Birthday tickers

Tuổi Chuột Nhắt

Lilypie Kids Birthday tickers

Tuổi Cún

Lilypie Kids Birthday tickers
%d bloggers like this: